Đồ dùng y tế cần thiêt và cách sơ cứu | Kinh nghiệm du lịch

http://armybox.vn/logo/sealock_logo.jpg  http://armybox.vn/logo/Givi_logo.jpg http://armybox.vn/logo/trackman_logo.jpghttp://armybox.vn/logo/n-rit_logo.jpg http://armybox.vn/logo/511_tactical.png http://armybox.vn/logo/volunteer_logo.jpg       
 http://armybox.vn/logo/coghlans_logo.pnghttp://armybox.vn/logo/swisstech_logo.jpghttp://armybox.vn/logo/naturehike_logo.jpghttp://armybox.vn/logo/gerber_logo.pnghttp://armybox.vn/logo/fanzipan_logo.png

Shop mới về 100 mẫu áo phông Thái Lan chất vải 100% Cotton: www.AoPhongThaiLan.Vn
Thùng xe máy Givi - Baga Givi chính hãng: www.ThungXeMay.Vn
Website về găng tay, bọc gối, áo giáp, đồ bảo hộ Motor:
www.GangTayXeMay.Vn
Website về balo 5.11 và quần 5.11 Tactical:
www.511Store.Vn
Website các loại mũ bảo hiểm:
www.MuPhuot.Vn
Website giày leo núi, giày Trek: 
www.GiayLeoNui.Net

Website về đồ Outdoor, đồ dã ngoại thương hiệu NatureHike:
www.NatureHike.Vn
Website áo mưa Givi, đồ Givi: 
www.AoChongNuoc.Com

Website về dụng cụ đa năng, Multi-Tool:
www.DungCuDaNang.Net

Đồ dùng y tế cần thiêt và cách sơ cứu PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Chủ nhật, 19 Tháng 1 2014 11:16

Bài 1 : Các đồ dùng cần thiết nên mang theo khi đi Phượt

 

Các dụng cụ y tế nên mang theo 1 : Băng cuộn x 5 cuộn

2: Gạc x 10 miếng

3: Bông x 2 cuộn

4: Dây garo x 2 sợi ( có thể mua tại các hiệu thuốc hoặc tự làm)

5: Bơm tiêm 5ml x 2 cái

 

Các loại thuốc cần thiết mang theo

 1: Oxi già hoặc thuốc đỏ.

2: Thuốc đau bụng có thể mua Becberin hoặc nopa dạng ống tiêm bắp

3: Thuốc giảm đau có thể mua Paracetamol

4: Cao dán 

5: Dầu gió

6: Thuốc cầm máu có thể mua Calcianginat

7. Một túi chườm lạnh khẩn cấp loại bé thôi 100g, bóp và lắc là nó lạnh buốt rồi. Dùng khi sốt, chườm chỗ bong gân, trật khớp, bỏng, hay để cầm máu.

8. Một cái nẹp nhôm hợp kim đa năng cỡ 110x900 mm hoặc 140 x900 mm nếu bạn nào to cao. Có thể dùng để nẹp cổ, nẹp vai, cánh tay, cẳng tay, đùi, cẳng chân, cổ tay chân. Rất dễ dùng. Có thể gập lại dùng nhiều lần. Nặng cực, có 100g thôi.

9. Nên dùng những loại bông băng gạc, cồn sát khuẩn đóng gói kẽm nhỏ, dùng 1 lần, vừa gọn nhẹ, vừa tránh chảy nước. Các loại chai lọ lỉnh kỉnh khi bị đè lên dễ bục, chảy nước lắm.

10. Nên có quyển sách sơ cứu bỏ túi nữa. Không phải ai cũng thành thạo. Hơn nữa lúc chuyện xảy ra cuống lắm. Làm sai có khi còn hại hơn ko làm gì. 

11. Đèn pin nhỏ nhưng pin bền hoặc năng lượng mặt trời càng tốt, còi. Chuyên nghiệp hơn thì đèn pin có chế độ nháy đèn cứu hộ. Đèn ánh sáng xanh nhìn tốt trong sương mù hơn đèn ánh sáng đỏ hay trắng.

11. Trà gừng: có tác dụng giải cảm, nâng huyết áp lên (khi bị tụt huyết áp), chống nhiễm lạnh... thực sự đi lên vùng núi cao, lạnh lẽo nên mang theo trà gừng. 12. ORESOL: rất quan trọng khi các bạn bị mất nước do: ỉa chảy, nôn nhiều, ra mồ hôi quá nhiều khi treking... nó bù lại lượng nước và điện giải cần thiết khi bị mất đi

 

Nói chung là trên đường phượt chúng ta có mang nhiều thuốc nhưng ko biết sử dụng, hoặc ko có phương tiện hỗ trợ thì khó mà đạt hiệu quả cao với lại quá cồng kềnh ko cần thiết, chúng ta chỉ cần mang theo những cái đơn giản và hữu dụng. Bản thân mỗi cá nhân khi đi phượt cũng nên lưu ý đến chính bản thân mình, khi bạn có một bệnh nào đó trong cơ thể (động kinh, bệnh tim mạch ...) thì bản thân bạn cũng nên lựa chọn những cung hợp với sức khỏe của mình, đừng có gắng sức quá, đồng thời phải mang những thuốc mình thường xuyên uống theo và nhắc xế - ôm -bạn đồng hành là tôi bị bệnh này... có thuốc này...để ở đây... khi thấy tôi như thế này... thì cho tôi uống liều như sau... (rất quan trọng đấy).

 

Một lưu ý nữa là nếu các bạn biết nhóm máu của mình là gì xin hãy kiếm một tờ giấy nhỏ ghi: thông tin cá nhân, thông tin bệnh tật, và nhóm máu. Nhóm máu rất quan trọng khi bạn bị mất máu cấp - khi nhân viên y tế biết nhóm máu của bạn họ sẽ thao tác nhanh hơn và cơ hội sống sót cao hơn

 

 

 

Bài 2 : Các phương pháp cầm máu thông thường

  Khi đi Phượt chúng ta không tránh được 1 số tại nạn đáng tiếc sảy ra dưới đây là một kỹ năng xử trí cấp cứu rất quan trọng và cần thiết để cứu sống nạn nhân và hạn chế những biến chứng của vết thương. Mục đích của việc cầm máu tạm thời là nhanh chóng làm ngưng chảy máu vì nếu mất máu nhiều, nạn nhân sẽ bị sốc nặng.

 

1. Băng ép

 Đặt một lớp gạc và bông thấm nước phủ kín vết thương, sau đó đặt một lớp bông mỡ (có tác dụng đàn hồi và không thấm nước) dày lên trên; lớp này càng dày thì tạo được sự nén ép càng cao; sức ép chỉ tập trung ở vị trí có lớp bông mỡ nên không cản trở tuần hoàn chung của chi thể. Băng kiểu vòng xoắn hoặc số 8, các vòng băng tương đối chặt, tốt nhất là dùng băng thun. Đây là phương pháp cầm máu cơ bản có thể áp dụng cho mọi vết thương mà không sợ các tai biến.

 

 

2. Băng nút

 Là cách băng ép có dùng thêm bấc gạc để nhét nút vào vết thương. Nhét nút càng chặt thì sức ép càng tăng và tác dụng cầm máu càng tốt. Băng nút thích hợp với các vết thương chảy máu động mạch ở sâu hoặc những vùng đặc biệt của cơ thể (như vùng cổ, vùng chậu) mà băng ép thông thường không phát huy được tác dụng cầm máu.

 

Cách băng nút: Dùng kẹp cầm máu hoặc nỉa nhét gạc vô khuẩn (tốt nhất là khâu sẵn thành cuộn gạc dài 2 cm x 50 cm) nhồi sâu vào tận đáy vết thương, ấn chặt để có tác dụng đè ép, cầm máu; sau đó tiến hành băng ép như trên. Nhược điểm của băng nút là khi nhét bấc gạc, ta có thể đưa cả dị vật và các mô dập nát vào sâu, gây ô nhiễm vết thương. Do đó, chỉ nên băng nút khi băng ép không hiệu quả và không thể áp dụng được các phương pháp cầm máu khác

 

3. Gấp chi tối đa Là biện pháp cầm máu đơn giản, rất tốt mà mỗi người có thể tự làm ngay sau khi bị thương để cầm máu. Khi chi thể gấp tối đa, các động mạch bị gấp và đè ép bởi các khối cơ bao quanh, có thể làm máu ngưng chảy. Tuy nhiên, phương pháp này không kéo dài được mà chỉ là biện pháp rất tạm thời, phải làm ngay khi bị thương rồi sau đó bổ sung bằng các biện pháp khác. Chi thể bị gấp tối đa thì dễ mỏi và nếu có tổn thương gãy xương đi kèm thì không thực hiện được.

 

Cách làm tuỳ theo vị trí tổn thương:

- Cẳng tay, bàn tay: Gấp cẳng tay vào cánh tay. Nếu phải giữ lâu, có thể cố định tư thế gấp tối đa bằng một vài vòng băng hoặc dùng thắt lưng ghì chặt cổ tay vào phần trên cánh tay.

- Cánh tay: Dùng một vật tày có đường kính chừng 10 cm làm con chèn, kẹp chặt vào nách ở phía trên chỗ chảy máu rồi buộc chặt cánh tay vào thân người.

- Cẳng chân hoặc bàn chân: Nằm ngửa hoặc ngồi, dùng hai tay kéo mạnh cẳng chân ép vào đùi, có thể đệm thêm một cuộn băng vào khoeo. - Đùi: Nằm ngửa, dùng hai tay kéo mạnh đầu gối để ép chặt đùi vào thân người, có thể dùng dây lưng để ghì mạnh đùi vào thân người.

 

4. Ấn động mạch

 Là động tác dùng ngón tay đè chặt vào động mạch trên đường đi của động mạch từ tim đến vết thương nhằm làm động mạch bị ép chặt giữa ngón tay và nền xương. Đây là biện pháp cầm máu tạm thời rất hiệu nghiệm, chắc chắn mà ít gây đau đớn, không gây rối loạn tuần hoàn ở các chi bị thương, nhưng đòi hỏi người làm phải nắm chắc kiến thức giải phẫu về đường đi của các động mạch. Phương pháp này có nhược điểm là không giữ lâu được vì người ấn nhanh chóng bị mỏi tay. Do đó, đây là động tác xử trí đầu tiên của y tá đối với một vết thương có chảy máu động mạch vừa hoặc lớn. Sau đó, phải sử dụng các biện pháp lâu bền hơn để đảm bảo cầm máu và chuyển nạn nhân về tuyến sau. Có thể chỉ dùng một ngón tay cái hoặc bốn ngón tay còn lại, có khi sử dụng cả hai ngón tay cái, thậm chí cả nắm tay. Động tác ấn đòi hỏi hết sức khẩn trương nên không cần cởi quần áo người bị thương.

 

Cách làm tuỳ theo vị trí chảy máu:

- Bàn tay và ngón tay: Dùng 2 ngón cái ấn vào động mạch quay (nơi thường bắt mạch trên cổ tay) và động mạch trụ (phía bên kia cổ tay).

- Cẳng tay hoặc phía dưới cánh tay: Ấn động mạch cánh tay (ở mặt trong cánh tay, phía trên vết thương) bằng ngón tay cái hoặc bốn ngón còn lại. Nếu máu còn chảy thì xê dịch ngón tay ra phía trước hoặc phía sau cho tới khi máu ngưng chảy.

- Phía trên cánh tay hoặc hố nách: Dùng ngón tay cái ấn mạnh và sâu vào hố trên xương đòn (ở sát giữa bờ sau của xương đòn) để động mạch bị kẹp vào giữa ngón tay cái và mặt trên xương sườn số 1.

- Đùi, cẳng chân hoặc bàn chân: Dùng 2 ngón tay cái ấn mạnh vào giữa nếp bẹn, các ngón còn lại ôm lấy mặt ngoài và trong của đùi. Có thể thay 2 ngón tay cái bằng cuộn băng chèn vào giữa nếp bẹn.

- Má: Dùng ngón tay cái ấn mạnh vào động mạch ở cằm, cách góc xương hàm dưới khoảng 3 cm về phía trước

 

5. Băng chèn

 Cũng là một cách đè ép động mạch trên đường đi của nó từ tim tới vết thương, nhưng đè bằng một vật tương đối rắn. Con chèn được đặt càng sát vết thương càng tốt, sau đó băng cố định con chèn tại chỗ bằng nhiều vòng băng xiết tương đối chặt theo kiểu vòng tròn hoặc số 8. Các loại vật thể làm con chèn là cuộn băng, miếng gạc cuộn chặt, nút bấc, lọ thuốc nhỏ (kiểu lọ penicillin) hoặc khúc tre, gỗ…, đường kính khoảng 2-3 cm, dài 4-5 cm. Ưu điểm của băng chèn là cầm máu tốt các vết thương động mạch.

 

Những vị trí cụ thể thường áp dụng băng chèn:

- Cánh tay: Khi có vết thương chảy máu ở cánh tay và cẳng tay, đặt một con chèn ở mặt trong cánh tay, phía trên vết thương rồi cố định bằng các vòng băng xiết tương đối chặt. Khi máu tại vết thương còn chảy rất ít hoặc ngưng chảy là được; nếu bắt mạch cổ tay không thấy là đã đè ép được động mạch.

- Hố nách: Đặt một con chèn sâu vào trong hố nách (tốt nhất là dùng một cuộn băng vải) rồi băng tròn vài vòng để đè ép con chèn vào đầu trên động mạch cánh tay, băng tiếp các vòng băng kiểu số 8 để cố định.

- Cổ chân: Áp dụng khi có vết thương chảy máu nhiều ở bàn chân mà băng ép không hiệu quả. Đặt hai con chèn ở cổ chân, một ở phía sau dưới mắt cá trong, một ở phía trước cổ chân theo đường kéo dài ngược lên từ khe ngón chân cái với ngón thứ hai. Băng ép để cố định con chèn.

- Khoeo: Áp dụng khi có chảy máu nhiều ở cẳng chân. Đặt một con chèn có đáy to (tốt nhất là một cuộn băng vải cuộn chặt) vào giữa khoeo, băng vòng tròn vài vòng để đè ép con chèn vào đúng đường đi của động mạch khoeo rồi băng kiểu số 8 để cố định con chèn.

- Nếp bẹn: Áp dụng khi có thương tổn chảy máu động mạch đùi (ở mặt trong đùi). Dùng một cuộn băng to đặt ở giữa nếp bẹn làm con chèn (ở vị trí này, động mạch đùi nằm nông nên có thể dễ dàng bắt mạch để xác định vị trí) dùng tay cố định con chèn ngay phía trên động mạch đùi rồi băng cố định.

-Cổ: Cần có hai người làm. Một người dùng cuộn băng vải làm con chèn ấn vào động mạch cảnh ở phía dưới vết thương (theo bờ trước của khối cơ lớn nhất vùng cổ bên). Người thứ hai đặt một nẹp tre hoặc gỗ để bắc cầu từ đầu tới mặt ngoài vai (phía đối xứng với bên bị thương) rồi cố định chắc hai đầu nẹp. Sau đó, dùng nẹp làm điểm tựa để băng ép con chèn vào đường đi của động mạch cảnh đã được xác định. Như vậy, máu vẫn có thể lên não qua động mạch cảnh ở phía đối diện (phía dưới nẹp). Khi không có điều kiện đặt nẹp, có thể dùng tay phía đối diện của người bị thương thay cho nẹp, sau đó khẩn trương chuyển về tuyến sau để xử trí.

 

 

Bài 3 : Các phương pháp cố định tạm thời khi gãy tay và gãy chân.

 

Trên đường Phượt tại nạn dễ sảy ra đó là gãy tay và gãy chân vì vậy dưới đây là bài giới thiệu cách băng bó trong nhưng trường hợp tương tự. Khi gãy xương, đầu xương gãy sắc nhọn dễ đâm rách mạch máu, thần kinh, làm cho nạn nhân mất máu, đau đớn… Vì vậy cần cố định xương gãy để hạn chế đau đớn và tai biến cho bệnh nhân. Cách cố định tạm thời một số loại gãy xương như sau: 

 

* Gãy xương cẳng tay, đặt nẹp (nẹp bằng tre, gỗ) ngắn ở mặt trước cẳng tay đi từ nếp khuỷu đến khớp ngón - bàn; đặt nẹp dài ở mặt sau cẳng tay, từ quá mỏm khuỷu, đối xứng với nẹp ở mặt trước. Buộc cố định 2 nẹp vào bàn tay và cẳng tay. Dùng dây (vải, khăn, băng cuộn) để treo cẳng tay ở tư thế gấp 90 độ.

* Gãy xương cánh tay: đặt một nẹp ở mặt trong cánh tay, đầu trên lên tới hố nách, đầu dưới sát nếp khuỷu. Mặt ngoài cánh tay đặt một nẹp đầu trên quá khớp vai nách, đầu dưới quá khớp khuỷu. Cố định nẹp ở 2 đoạn: 1/3 trên cánh tay, ở trên khớp khuỷu. Dùng băng tam giác (khăn vuông gấp chéo) hoặc băng cuộn treo cẳng tay vuông góc 90 độ và cuốn một vài vòng băng buộc cánh tay vào thân. 

* Gãy xương cẳng chân: đặt 2 nẹp ở mặt trong và mặt ngoài chi gãy đi từ giữa đùi tới quá cổ chân. Băng cố định nẹp vào chi ở các vị trí bàn cổ chân, dưới và trên khớp gối, giữa đùi.

* Gãy xương đùi: dùng 3 nẹp để cố định, nẹp ở mặt ngoài đi từ hố nách đến quá gót chân; nẹp ở mặt trong đi từ bẹn đến quá gót chân; nẹp ở mặt sau đi từ trên mào chậu đến quá gót chân. Băng cố định nẹp vào chi ở các vị trí: bàn chân, cổ chân, 1/3 trên cẳng chân, trên gối, bẹn, bụng và dưới nách. Buộc chi gãy đã cố định vào chi lành ở ba vị trí cổ chân, đầu gối và đùi. Sau đó chuyển đến bệnh viện để được xử trí.

 

 

 

Bài 4. Sơ cứu và phòng khi rắn cắn 

 

Tai nạn rắn cắn thường xảy ra bất ngờ, khiến chúng ra và những người trong đoàn lúng túng, chậm trễ… nhiều khi không cứu nổi. Sau khi cắn người, con rắn thường chạy mất, nạn nhân không kịp nhận diện để biết là rắn lành hay rắn độc, nhất là trong đêm tối… Do vậy, khi không may bị rắn cắn, nạn nhân phải thật bình tĩnh, nhanh chóng làm các việc dưới đây:

 

Cố gắng xác định sơ bộ xem đó là rắn lành hay rắn độc. Nếu tại vết cắn thấy cả hai hàm răng với nhiều vết chấm hình vòng cung, không thấy vết răng nanh là rắn lành. Còn nếu tại nơi bị cắn có hai vết răng nanh cách nhau 5mm và một số vết răng nhỏ là rắn độc.

 

Nếu đúng là bị rắn độc cắn hoặc không xác định được chắc chắn là rắn lành hay rắn độc, cần ngồi yên, tuyệt đối không cử động phần cơ thể (chân, tay…) bị rắn cắn vì cử động sẽ làm cho chất độc lan nhanh trong cơ thể. Nếu bị cắn ở chân, nạn nhân không được đi, hay chạy.

 

Nếu có phương tiện sơ cứu có thể làm như sau: Rửa sạch vết rắn cắn bằng xà phòng và nước sạch. Dùng dao sạch (đã khử khuẩn bằng cách hơ trên ngọn lửa) rạch một đường dài khoảng 10mm, sâu độ 3mm tại vết răng nanh, sau đó nặn ra ít máu. Sát khuẩn vết rạch bằng cồn 70o hoặc thuốc tím 0,1%, nước oxy già 12 thể tích, nước muối 9‰, rồi băng vết thương bằng gạc vô khuẩn.

 

Điều cần lưu ý: Nếu vết cắn đã bị hoại tử hoặc rắn đã cắn nửa giờ thì không nên rạch da vì không có tác dụng.

 

Nạn nhân và những người có mặt không được sờ vào miệng rắn cho dù rắn đã bị đánh chết hoặc đầu rắn đã bị chặt rời khỏi thân.

 

Sơ cứu xong, cần bất động chi bị cắn, chuyển nạn nhân đi bệnh viện ngay. Nên chuyển nạn nhân bằng cáng, hoặc ô tô, không nên chở bằng xe đạp, xe máy nhất là khi nạn nhân có dấu hiệu bị sốc hoặc liệt phần chi bị rắn cắn.

 

Theo dõi sát mạch, huyết áp, nhịp thở của nạn nhân. Chú ý phát hiện sớm các dấu hiệu suy hô hấp, truỵ tim mạch để có cách xử trí kịp thời. Nếu do rắn hổ (hổ mang, cạp nong, cạp nia…) cắn, sẽ có dấu hiệu viêm nhiễm rất sớm, thường chỉ sau 5 phút đến 1-2 giờ, nạn nhân thấy đau buốt tại chỗ, người mệt mỏi, chóng mặt, buồn nôn, khó há miệng, sụp mi, giãn đồng tử, mạch nhanh, huyết áp tụt, rồi ngừng tim, ngừng thở và tử vong. Nếu do rắn lục cắn, nơi bị cắn sưng tấy nhanh, chỉ sau 6 giờ toàn chi bị cắn sẽ sưng to, tím tái, sau 12 giờ vết cắn bắt đầu hoại tử, nạn nhân bị truỵ tim mạch, viêm thận, suy thận cấp.

 

Đề phòng rắn cắn:

 

Rắn thường kiếm mồi về đêm, ban ngày chúng thường ẩn nấp trong các hang hốc, hoặc treo mình trong bụi cây rậm rạp, ẩm thấp, tối tăm, do vậy:

 

Khi cần đi qua những nơi này, nhớ đi ủng, hoặc mang theo gậy dài vừa đi vừa khua để xua đuổi rắn. Không ngồi ở gò, đống, bờ bụi, gốc cây có nhiều hang hốc. Không nằm nghỉ dưới đất gần các bụi cây rậm rạp.

 

 

 

Bài 5 : Cầm máu vết thương

 

Khi bị vết thương chảy máu, cần:

 

- Nâng cao phần bị thương lên - Dùng khăn sạch (hoặc dùng tay nếu không có khăn) ấn chặt ngay vào vết thương. Giữ chặt cho đến khi máu ngừng chảy, - Nếu máu chảy không cầm được khi ấn chặt vào vết thương, hoặc nếu nạn nhân đang mất nhiều máu:

 

* Cứ ấn chặt vào vết thương * Giữ cho phần bị thương giơ cao lên, càng cao càng tốt * Buộc ga rô tay hoặc chân càng gần chỗ vết thương càng tốt. Xiết chặt vừa đủ làm máu cầm lại. Buộc ga rô bằng một cái khǎn gấp lại hoặc dây lưng rộng, đừng bao giờ dùng một dây thừng mảnh, dây thép... * Chuyển ngay nạn nhân đến cơ sở y tế.

 

Chú ý: * Chỉ buộc ga rô ở chân hoặc tay nếu máu chảy nhiều và ấn chặt trực tiếp vào vết thương mà máu không thể cầm được, * Cứ 30' lại nới lỏng dây ga rô một lát để xem còn cần buộc ga rô nữa hay không và để cho máu lưu thông. * Nếu máu chảy nhiều hoặc bị thương nặng, để cao chân và đầu thấp để đề phòng sốc.

 

 

 

Bài 6 : Sơ cứu khi bạn đồng hành ngất xỉu !!!!

 

Ngất xỉu có thể là phản ứng khi bị đau hay sợ sệt hoặc do tức tối, kiệt sức và đói,hoạt động thể chất, đặc biệt là ở nơi nóng bức mà trên đường đi chúng ta hay gặp phải. Máu chảy xuống phần phía dưới cơ thể làm giảm lượng máu hiện có trong não. ** Cách nhận biết Cảm thấy mệt mỏi, ra mồ hôi trộm. Bệnh nhân sẽ ngã xuống sàn.  Mạch đập chậm.  Da nhợt nhạt, mắt mờ. Bệnh nhân sẽ ngã xuống rất nguy hiểm.

 

**Những điều nên làm

 

Đặt bệnh nhân nằm xuống, nâng và đỡ chân bệnh nhân lên.  Bảo đảm cho bệnh nhân thở nhiều không khí trong lành; nếu cần thiết thì hãy mở cửa sổ ra.  Trấn an khi bệnh nhân tỉnh lại và làm bệnh nhân cảm thấy dễ chịu, thoải mái. giúp bệnh nhân ngồi dậy từ từ.  Tìm xem bệnh nhân có còn bị thương tích nào do bị ngã gây ra không và sơ cứu cho bệnh nhân.  Nếu bệnh nhân không hồi tỉnh lại nhanh, hãy kiểm tra nhịp thở và mạch đập của bệnh nhân, chuẩn bị hô hấp nhân tạo nếu thấy cần thiết. Đặt bệnh nhân ở tư thế dễ hồi sức . Nếu bệnh nhẩn bắt đầu cảm thấy muốn ngất xỉu trở lại, hãy đặt đầu bệnh nhân giữa hai đầu gối họ và bảo họ hít sâu vào.

 

 

 

Bài 7. Dị vật đường thở

  Trong những buổi off và nhưng chuyến đi của chúng ta 1 phần quan trọng đó là ăn uống và giao lưu trong khi ăn uống chúng ta thường giao lưu với mọi người nên sẽ không tránh khỏi di vật đi vào đường thở còn gọi là " hóc".

Dưới đây là 1 số vị trí, hội chứng và sơ cứu khi có dị vật đường thở :

 

Vị trí : - Dị vật to thường mắc ở thượng thanh môn, như các loại hột, quả nhỏ.... - Dị vật nhỏ hơn có thể bị kẹt ở thanh môn, như xương cá. - Dị vật có thể đi xuống dưới thanh môn, khí quản hay phế quản. - Dị vật có thể nằm im trong khí quản hay phế quản như hột mãng cầu...Di động lên xuống theo nhịp thở như hột dưa...Ghim vào thành khí phế quản như xương cá, kim...

 

Các hội chứng của người bị dị vật đường thở: - Hội chứng xâm nhập: Đang ăn tự nhiên thì bị ho sặc, khó thở, tím tái cần nghĩ ngay đến dị vật lọt vào đường thở. - Khó thở thanh quản: thở hước, thở rít, thở ráng sức hít vào, bứt rứt, vật vã do đường thở bị bít tắc. - Nếu dị vật không gây các triệu chứng trên, hoặc có song thoáng qua, có thể bị bỏ qua khiến bệnh nhân sau đó bị viêm phổi tái phát. - Khám phổi bằng ống nghe có thể phát hiện tiếng thở rít do đường thở bị hẹp hay một số triệu chứng của viêm phổi, khí thũng phổi, hoặc dấu cờ bay lật phật do dị vật di chuyển theo nhịp thở.

 

Cách xử trí: 

 

- Nếu dị vật là chất lỏng: bệnh nhân khó thở do phản xạ co thắt thanh môn. Để cấp cứu, đặt bệnh nhân nằm sấp trên lòng bàn tay hay trên đùi rồi vỗ mạnh vào lưng 2-3 cái. Nếu bệnh nhân lớn hơn, để bệnh nhân nằm ngửa rồi ấn tay vào thương vị, nhồi 2-3 cái để trẻ ho bắn ra và thở trở lại. Nếu bệnh nhân vẫn chưa thở được, phải hà hơi thổi ngạt và xoa bóp tim ngoài lồng ngực nếu ngưng tim.

 

- Nếu dị vật cứng:

 

+ Khi người bệnh khó thở tím tái, cách xử trí giống như khi bị sặc chất lỏng. Nếu bệnh nhân lớn có thể làm nghiệm pháp Heimlic: để bệnh nhân đứng, người cúi ra trước, người cấp cứu đứng phía sau, hai tay bắt vào nhau thành một nắm đấm để vào vùng thượng vị của bệnh nhân, sau đó giật mạnh từ trước ra sau và từ dưới lên trên để làm tăng áp lực trong lồng ngực nhằm có thể tống dị vật ra. Nếu không kết quả phải tìm cách đưa bệnh nhân đến ngay bệnh viện để soi gắp dị vật.

 

+ Nếu bệnh nhân lờ đờ, vật vã, phải thọc tay móc ngay dị vật ra vì thường đây là dị vật to gây bít tắc thanh môn. Còn với vật nhỏ hơn, có thể thổi miệng đẩy luôn dị vật xuống sâu để bệnh nhân có thể thở được, sau đó chuyển đến bệnh viện. Sau khi soi, bệnh nhân cần dùng thuốc kháng viêm và kháng sinh trong 7-10 ngày.

 

 

 

Bài 8. Cách xử trí - Bỏng do nhiệt 

 

Thường gặp nhất, chia thành 2 nhóm: do nhiệt khô (lửa, tia lửa điện, kim loại nóng chảy...) và do nhiệt ướt (nước sôi, thức ăn nóng sôi, dầu mỡ sôi, hơi nước nóng... 

 

Bỏng nước sôi và bỏng lửa là một tai họa thường gặp. Khi bị bỏng diện rộng, nếu không được xử trí đúng thì nhiễm trùng vết bỏng sẽ là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Bỏng càng rộng và độ bỏng càng cao thì mức độ bệnh càng nặng.

 

- Người bệnh cần ngay lập tức nhúng phần cơ thể bị bỏng (thậm chí cả người) vào nước lạnh (chậu nước, bể nước sạch, vòi nước đang chảy...). - Khẩn trương đưa đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí tiếp. - Nếu là bỏng do nước sôi, không được cởi bỏ quần áo vì có thể dẫn tới việc lột da vùng bị bỏng và làm mức độ bỏng nặng thêm do bị thấm nhiệt qua lớp quần áo, tất... và dễ gây nhiễm trùng vết bỏng. - Không bôi nước mắm, vôi, kem đánh răng... lên vết bỏng vì có thể làm nhiễm trùng. - Không tự lột bỏ da trên vùng bị bỏng do có thể gây nhiễm trùng tại chỗ dẫn tới nhiễm trùng toàn thân.

 

Những sai lầm cơ bản khi sơ cứu bỏng

Khi bị bỏng, việc tự sơ cứu là rất cần thiết. Nhiều trường hợp do xử lý sai nên đã để lại những hậu quả đáng tiếc.Tôi xin đưa ra một vài sai lầm người bị bỏng thường làm.

 

- Dùng kem đánh răng:

 

Nhiều người khi bị bỏng bôi kem đánh răng lên vết thương. Họ quan niệm kem đánh răng sẽ làm dịu vết thương. Song, thực chất kem đánh răng có chất kiềm nhẹ, khi bôi lên vết bỏng sẽ làm tăng đau đớn.

 Trong trường hợp bỏng axít, người ta dùng kem đánh răng để rửa và trung hoà axít còn dư lại. Khi bị bỏng axít, bạn phải hoà loãng nồng độ axít còn lại trên da bằng cách ngâm ngay vào nước lạnh. Sau đó, trung hoà axít còn dư trên da bằng xà phòng hoặc kem đánh răng, bằng cách xoa nhẹ xà phòng hoặc kem đánh răng cho sủi bọt và ngấm sâu vào da rồi rửa sạch.

 

Đối với bỏng nước sôi, lửa, không được dùng những chất này vì nó chỉ làm tăng thêm sự đau đớn. Không nên dùng xà phòng, kem đánh răng như một thứ thuốc.

 

- Dùng mỡ trăn hoặc dầu cá

 

Nhiều lọ mỡ trăn không được tiệt trùng nên hầu hết bị ôi thiu do nhiễm vi sinh vật. Do đó, vết bỏng bị nhiễm khuẩn rất nhanh. Còn dầu cá có mùi tanh, khi bôi lên sẽ bị hôi tanh và gọi ruồi đến.

 

Thực ra mỡ trăn và dầu cá đều có thể chữa bỏng nhưng phải dùng đúng lúc. Chất Vitamin A trong dầu cá và mỡ trăn có tác dụng kích thích sự tái tạo tế bào biểu mô. Vì vậy, người ta thường sử dụng kết hợp với các thuốc khác tạo thành hợp chất có tác dụng như mỡ, kem.

 

Thuốc chỉ định cho những trường hợp bị bỏng sâu, dùng vào tuần lễ thứ ba sau khi bỏng. Không dùng mỡ trăn và dầu cá vào việc sơ cứu.

 

- Bôi lòng đỏ trứng gà

 

Lòng đỏ trứng gà là môi trường rất tốt cho vi khuẩn phát triển. Khi bôi lòng đỏ trứng, vết bỏng rất nhanh bị nhiễm khuẩn, có thể chuyển thành nhiễm nặng và nguy hiểm.

 

Một số nơi còn dùng các biện pháp sơ cứu lạc hậu, nguy hiểm như bôi nước mắm, bôi tương, nước tiểu, vắt nước củ chuối, củ ráy lên vết thương.

 

Tốt nhất khi bị bỏng, bạn nên ngâm ngay vết thương vào nước lạnh, càng sớm càng tốt.

 

 

 

 

Bài 9. Cách xử trí khi bị ong đốt

Để việc cứu chữa có hiệu quả cao, nạn nhân bị ong đốt cần được phát hiện và sơ cứu càng sớm càng tốt (trong vòng 10-15 phút). Điều này đặc biệt quan trọng nếu người bệnh bị đốt bởi các loại ong mà nọc có độc tố cao như ong vò vẽ.

 

Các động tác sơ cứu bao gồm: rửa xà phòng (hoặc chất kiềm nhẹ) ở vết cắn rồi chườm lạnh, rút kim châm của ong. Sau đó chuyển bệnh nhân lên tuyến y tế có điều kiện. , vừa cho người bệnh uống thuốc kháng histamin và kháng sinh ngay.

 

Các biện pháp can thiệp tích cực bao gồm chống đau ngứa tại chỗ, chống sốc phản vệ (nếu có), cho thở ôxy, đặt nội khí quản làm thông đường thở.

 

Với những bệnh nhân nặng, phải lọc máu ngoài thận sớm mới cứu được sinh mạng và bảo đảm không để lại di chứng về sau.

 

Trong các loài ong gây chết người, thường gặp nhất là ong vò vẽ, gồm 2 loại:

 

- Loại nhỏ: Thân màu đen, vàng xen kẽ, bụng có một khoanh vàng rộng; làm tổ cao, thích sống gần hơi ấm của con người và gia súc. Độc tính của nọc ong này khá cao; nếu bị đốt 40-50 nốt (ở trẻ em là 30 nốt), bệnh nhân rất dễ tử vong nếu không được cứu chữa tích cực, đúng cách và triệt để.

 

- Loại to: Làm tổ trên mặt đất hoặc hố đất, rất độc. Chỉ 1-2 con đốt đã có thể gây sốt. Chúng thường làm tổ ở các gò, đồi, mô đất cao hơi yên tĩnh, thường xa nhà và nơi thả gia súc.

 

Nọc độc của ong vò vẽ gồm các chất histamin (gây dị ứng rất mạnh và rất nhanh, khoảng 20-30 phút sau khi bị đốt) các enzym, peptid độc, serotonin và kinin. Các chất này gây sốc phản vệ nhanh, đau buốt, sưng nề tại chỗ và lan tỏa, dẫn đến tổn thương gan và suy gan, tổn thương thận và suy thận, tiêu cơ vân, tan máu.

 

Tùy số nốt đốt và phản ứng của từng cá thể, bệnh nhân có thể bị phù mặt, thanh khí phế quản và thanh môn, khó thở, nói khàn; có thể liệt thần kinh (mặt, ngoại biên, mắt), thậm chí bị tổn thương thần kinh lan tỏa rất nặng nề. Độc chất của nọc ong vò vẽ còn có thể gây nhược cơ trầm trọng.

Nguồn: Chợ phiên miền ngược https://www.facebook.com/notes/vietnam-outdoor-trade-show/tip-2-%C4%91%E1%BB%93-d%C3%B9ng-y-t%E1%BA%BF-c%E1%BA%A7n-thi%E1%BA%BFt-c%C3%A1ch-s%C6%A1-c%E1%BB%A9u/349069641857729

Cập nhật ngày Chủ nhật, 19 Tháng 1 2014 11:18
 

ArmyBoxVN

DANH MỤC SẢN PHẨM

Kinh nghiệm du lịch

STATICS